Một số chính sách, pháp luật có hiệu lực từ tháng 06/2026

Trong tháng 06/2026 có 06 Nghị quyết, 04 Nghị định, 12 Quyết định, 27 Thông tư chính thức có hiệu lực, sau đây là một số văn bản, chính sách quan trọng liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và liên quan mật thiết đến đời sống của Nhân dân:

1. Thông tư 37/2026/TT-BCA

Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư 37/2026/TT-BCA sửa đổi các Thông tư quy định về đăng ký, kiểm định phương tiện, trong đó có sửa đổi Thông tư 79/2024/TT-BCA , có hiệu lực từ ngày 8/6/2026.

Theo đó, hồ sơ đăng ký sang tên xe gồm: 

+ Giấy khai đăng ký xe;

+ Giấy tờ của chủ xe quy định;

+ Chứng từ chuyển quyền sở hữu theo quy định.

Trường hợp dữ liệu về tình trạng hôn nhân của chủ xe đã được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư thì dữ liệu điện tử chuyển quyền sở hữu trên Cổng dịch vụ công có giá trị pháp lý như Chứng từ chuyển quyền sở hữu bản giấy.

+ Chứng từ lệ phí trước bạ xe theo quy định;

+ Chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe

2. Thông tư 07/2026/TT-TANDTC

Thông tư 07/2026/TT-TANDTC quy định việc thực hiện nhiệm vụ xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc của Thẩm phán Tòa án nhân dân công tác tại Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/6/2026. 

Cụ thể, nguyên tắc phân công thực hiện nhiệm vụ xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân công tác tại Tòa án nhân dân tối cao như sau: 

- Tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Bảo đảm Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

- Bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, khách quan, hợp lý.

- Bảo đảm phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, năng lực xét xử, điều kiện đi lại, thời gian làm việc của Thẩm phán Tòa án nhân dân tại Tòa án nhân dân tối cao.

- Việc phân công thực hiện nhiệm vụ xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ở đơn vị công tác của Thẩm phán Tòa án nhân dân tại Tòa án nhân dân tối cao.

3. Thông tư 11/2026/TT-BXD

Thông tư 11/2026/TT-BXD quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/6/2026.

Theo đó, danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 11/2026.

Khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, bao gồm khoáng sản được được khai thác, thu hồi hoặc khoáng sản mua bán, vận chuyển trên lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản.

Hồ sơ xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật về quản lý ngoại thương.

4. Thông tư 08/2026/TT-BKHCN

Theo Điều 8 Thông tư 08/2026/TT-BKHCN, kể từ ngày 15/6/2026, khi phát hiện thuê bao có hoạt động thay đổi thiết bị đầu cuối so với thiết bị đã sử dụng trước đó, doanh nghiệp viễn thông phải triển khai biện pháp rà soát và có thể tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi trong thời gian tối đa 02 giờ nếu thuê bao chưa thực hiện xác thực lại sinh trắc học ảnh khuôn mặt.

Việc xác thực được thực hiện bằng cách đối chiếu ảnh chụp trực tiếp khuôn mặt của thuê bao với dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước, Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh hoặc dữ liệu sinh trắc học đã được lưu giữ hợp pháp tại doanh nghiệp viễn thông.

5.Thông tư  40/2026/TT-BGDĐT

Thông tư 40/2026/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 15/5/2026 đã quy định mới về đánh giá kết quả rèn luyện đối với sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp, có hiệu lực từ ngày 30/6/2026.

Theo Điều 17 Thông tư 40/2026/TT-BGDĐT, việc đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên là đánh giá về trách nhiệm, tinh thần và thái độ rèn luyện phẩm chất của sinh viên, được tính theo thang điểm 100.

Theo khoản 3 Điều 18 Thông tư 40/2026/TT-BGDĐT, kết quả rèn luyện của sinh viên được phân thành 05 loại gồm:

  • Loại xuất sắc: từ 90 đến 100 điểm;

  • Loại tốt: từ 80 đến dưới 90 điểm;

  • Loại khá: từ 70 đến dưới 80 điểm;

  • Loại trung bình: từ 50 đến dưới 70 điểm;

  • Loại yếu: dưới 50 điểm.

Đồng thời, Thông tư cũng quy định, sinh viên bị kỷ luật khiển trách thì kết quả rèn luyện không vượt quá loại khá; trường hợp bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên thì kết quả rèn luyện không vượt quá loại trung bình.

Ngoài ra, kết quả rèn luyện được sử dụng để xét cấp học bổng khuyến khích học tập, xét khen thưởng năm học, toàn khóa học và các chế độ khác liên quan đến quyền lợi của sinh viên. Kết quả rèn luyện xuất sắc được nhà trường xem xét biểu dương, khen thưởng.

6. Thông tư 50/2025/TT-BCT

Theo Thông tư 50/2025/TT-BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 7/11/2025, từ ngày 1/6/2026, xăng không chì sẽ phải được phối trộn thành xăng sinh học E10 để sử dụng trên toàn quốc.

Một trong những nội dung được nhiều người quan tâm tại Thông tư này là quy định về việc áp dụng xăng E10 trên phạm vi toàn quốc từ ngày 01/6/2026.

Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 50/2025/TT-BCT, từ ngày 01/6/2026, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành phải được phối trộn, pha chế thành xăng E10 để sử dụng cho động cơ xăng trên toàn quốc.

Dù xăng E10 sẽ được áp dụng trên toàn quốc từ ngày 01/6/2026, nhưng điều này không đồng nghĩa toàn bộ cây xăng chỉ còn bán duy nhất xăng E10 kể từ thời điểm này.

Khoản 2 Điều 4 Thông tư 50/2025/TT-BCT quy định tiếp tục phối trộn, pha chế xăng E5RON92 để sử dụng cho động cơ xăng đến hết ngày 31/12/2030.

Như vậy, xăng E5RON92 vẫn tiếp tục được lưu hành trên thị trường đến hết năm 2030 theo đúng lộ trình được Bộ Công Thương quy định.

7. Nghị định 127/2026/NĐ-CP

Nghị định 127/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal, có hiệu lực từ ngày 1/6/2026, trong đó quy định tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal như sau: 

- Tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal được xây dựng, công bố và áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Quá trình xây dựng, sửa đổi tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal phải bảo đảm có sự tham gia của đại diện Bộ Dân tộc và Tôn giáo và chuyên gia là người Hồi giáo có chuyên môn về các yêu cầu Halal trong quá trình tham vấn, thẩm định các nội dung liên quan.

- Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài về sản phẩm, dịch vụ Halal thực hiện như sau:

+ Trường hợp sản xuất sản phẩm, dịch vụ Halal để xuất khẩu: Cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal theo yêu cầu, thỏa thuận hoặc hợp đồng với tổ chức, cá nhân nhập khẩu;

+ Trường hợp sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ Halal để tiêu thụ trong nước: Cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo về sản phẩm, dịch vụ Halal

- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được khuyến khích xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở đối với sản phẩm, dịch vụ Halal của mình đối với các sản phẩm, dịch vụ chưa có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo tương ứng. Tiêu chuẩn cơ sở phải đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu chung của các tiêu chuẩn Halal quốc tế, khu vực được thừa nhận rộng rãi.

- Các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm, dịch vụ Halal theo quy định nêu trên không được trái với các quy định pháp luật của Việt Nam

8. Nghị định số 144/2026/NĐ-CP

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng: “3a. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung”.

Về các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, thương mại thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP như sau: “đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi".

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 14 Điều 4 đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như sau:

“14. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác theo định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô được quy định tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định này.

Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh sản phẩm xuất khẩu tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô trong từng thời kỳ, Bộ Công Thương xác định và đề xuất điều chỉnh Danh mục gửi Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.”.

Nghị định số 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điểm a và bổ sung điểm c của khoản 2 Điều 23 quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng.

9. Nghị định số 146/2026/NĐ-CP

Nghị định số 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt liên quan đến việc lấn, chiếm và sử dụng môi trường rừng trái quy định.

Nghị định này gồm 4 chương, 42 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lâm nghiệp như: Lấn, chiếm rừng; sử dụng môi trường rừng trái quy định; các vi phạm quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý rừng bền vững; hồ sơ, thủ tục khai thác lâm sản có nguồn gốc hợp pháp; khai thác lâm sản trong rừng trồng trái pháp luật; khai thác rừng tự nhiên trái pháp luật; quản lý giống cây trồng lâm nghiệp; trồng rừng; bảo vệ rừng; phòng cháy và chữa cháy rừng gây cháy rừng; phòng trừ sinh vật hại rừng; phá hủy các công trình bảo vệ và phát triển rừng; phá rừng; bảo vệ động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật; tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật; quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản…

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, người có thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này.

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với cá nhân là 500.000.000 đồng và đối với tổ chức là 1.000.000.000 đồng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026; bãi bỏ Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; thú y; chăn nuôi

10. Chỉ thị số 21/CT-TTg

Nội dung này được quy định tại Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

Theo Chỉ thị 21/CT-TTg, phương án tổng thể phải bao gồm nội dung kiện toàn đội ngũ người hoạt động không chuyên trách tại các thôn, tổ dân phố sau sắp xếp và chính sách hỗ trợ theo quy định; đồng thời giải quyết chế độ, chính sách cho người không tiếp tục tham gia hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố. Sau khi hoàn thiện, phương án phải báo cáo cấp ủy cùng cấp trước khi ban hành. 

Bên cạnh đó, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố phải bảo đảm phù hợp với tiêu chí, điều kiện theo quy định của Chính phủ và yêu cầu quản lý của địa phương khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Đồng thời, phải xem xét đầy đủ các yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có yếu tố tôn giáo.

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ KỲ ANH

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất